Logo

Về quy định hủy bỏ hiệu lực Đăng ký nhãn hiệu vì dụng ý xấu tại Luật Sở hữu trí tuệ 2025

15/05/2026
Định nghĩa và xây dựng tiêu chí hướng dẫn xác định hành vi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có “dụng ý xấu” (bad faith) hiện vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận

1.Quy định  đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu

 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi nhiều Luật trong các năm 2009, 2019, 2022,  và gần đây nhất là Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật SHTT 2025). Quy định về nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với “dụng ý xấu” được nêu tại Điều 96 - Hủy bỏ hiệu lực VBBH, theo đó :

1. VBBH bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

a) Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;

Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN ngày 31/3/2026 quy định chi tiết nội dung trên  tại Điều 112.3 như sau :

3. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bị hủy bỏ hiệu lực do người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 96 của Luật Sở hữu trí tuệ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người nộp đơn đăng ký số lượng lớn nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với các nhãn hiệu đang được người khác sử dụng tại Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà việc đăng ký này vượt quá năng lực kinh doanh thông thường và không có bằng chứng thể hiện ý định sử dụng thực sự các nhãn hiệu này trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoặc

b) Tại thời điểm nộp đơn, nhãn hiệu đăng ký trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đã được người tiêu dùng có liên quan tại Việt Nam thừa nhận là dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự của người khác hoặc nhãn hiệu đăng ký trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu nổi tiếng tại các nước khác; và việc đăng ký này nhằm lợi dụng danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu đó để thu lợi hoặc chủ yếu nhằm mục tiêu bán lại, cấp phép hoặc chuyển giao quyền đăng ký cho người có các nhãn hiệu nêu tại khoản này hoặc nhằm mục tiêu ngăn chặn khả năng gia nhập thị trường của người có các nhãn hiệu nêu tại khoản này để hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi trái với tập quán thương mại lành mạnh khác.

2. Về nội dung  của Quy định 

Như vậy xét toàn bộ nội dung về “dụng ý xấu” được quy định tại điểm Điểm 112, có thể nhận thấy một số điểm bất cập trong các quy định trên như sau :

Về tổng thể

- Cả hai điểm a, b  Điều 112  không đề cập đến hậu quả của việc đăng ký nhãn hiệu với “dụng ý xấu” là gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về xuất xứ của sản phẩm,  gây thiệt hại cho chủ nhãn hiệu có trước hoặc đang hoạt động..., nhưng đây là nội dung rất cần thiết  để chứng minh cho dụng ý xấu .

- Yếu tố nước ngoài không được nhắc đến, ví dụ: các bản án, quyết định của Cơ quan thẩm quyền nước ngoài liên quan đến “bad faith” đối với các  bên có liên quan, hoặc hoạt động, tranh chấp của các bên có liên quan đến hoạt động tại nước ngoài... đều không được đề cập, nếu chỉ giới hạn các hoạt động  trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, nhiều vụ việc sẽ không giải quyết được trong hoàn cảnh giao thương quốc tế như hiện nay.

Điểm a

Điểm này có nhiều nội dung bất cập, khó thực hiện, như sau: 

- Người nộp đơn chỉ bị coi là “dụng ý xấu” khi đăng ký một số lượng lớn nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang sử dụng (quy định không nêu rõ phạm vi lãnh thổ nên có thể mặc định là chỉ tại Việt Nam), vậy nếu người nộp đơn chỉ nộp đơn đăng ký một hoặc vài nhãn hiệu dù có đáp ứng tất cả các nội dung nêu trong điểm này  thì có thể vẫn không bị coi là “nộp đơn có dụng ý xấu”, hoặc nếu người nộp đơn đăng ký nhiều nhãn hiệu,  nhưng lại tương tự với các nhãn hiệu của các chủ thể khác (không phải một chủ thể ) đang hoạt động thì cũng không bị coi là “nộp đơn có dụng ý xấu”.

- Điểm a không nêu rõ thời điểm nhãn hiệu bị coi là tương tự với “các nhãn hiệu đang được người khác sử dụng tại Việt Nam” sẽ dẫn đến cách hiểu không thống nhất về thời điểm so sánh các nhãn hiệu, vậy nếu như  các nhãn hiệu vừa nêu  bắt đầu hoạt động sau ngày nộp đơn thì nhãn hiệu trong đơn đăng ký có bị coi là “nộp đơn có dụng ý xấu” ?,cũng phải lưu ý rằng doanh nghiệp hoạt động thì chưa chắc đã có sản phẩm đưa ra thị trường , ví dụ như trong vụ hủy bỏ nhãn hiệu “Xi măng Trung Sơn” - GCNĐKNHHH số 82099) một bên đã đăng ký nhãn hiệu nêu trên  trong khi phía bên kia đang tiến hành triển khai dự án “Nhà máy xi măng Trung Sơn” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hai doanh nghiệp có vị trí địa lý sát nhau, đây là trường hợp điển hình của đăng ký nhãn hiệu kông trung thực dù Dự án “Xi măng Trung Sơn” vào thời điểm đăng ký nhãn hiệu theo GCNĐKNHHH 82099 chưa có sản phẩm đưa ra thị trường.

- Nội dung còn lại “việc đăng ký này vượt quá năng lực kinh doanh thông thường và không có bằng chứng thể hiện ý định sử dụng thực sự các nhãn hiệu này trong hoạt động sản xuất, kinh doanh” là rất mơ hồ và và mẫu thuẫn vì:

Quy định không làm rõ thời điểm nào được sử dụng để đánh giá “Năng lực kinh doanh thông thường”?, cần lưu ý là điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp/chủ nhãn hiệu có thể thay đổi theo thời gian, chủ nhãn hiệu cũng có thể thay đổi do đơn đăng ký có thể được chuyển giao cho chủ thể khác . Đồng thời cũng cần lưu ý đến quy định về hiệu lực Đăng ký nhãn hiệu, đó là việc chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu chỉ được thực hiện nếu chủ  đăng ký nhãn hiệu không sử dụng trong vòng 5 năm kể từ ngày đăng ký (Điều 95.1.d), vậy văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có thể bị hủy bỏ trong thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký trái với quy định về thời hạn chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu? quy định “thể hiện ý định sử dụng thực sự các nhãn hiệu” có nội dung được nêu tại Điều 111 Thông tư 10 về Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, nhưng như đã nêu trên , chấm dứt hiệu lực VBBH nhãn hiệu chỉ được thực hiện sau thời hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký trong khi hủy bỏ hiệu lực không bị giới hạn bởi thời hiệu.

Cũng phải nêu rõ là khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu người nộp đơn chỉ cần chứng minh điều kiện pháp lý về sản xuất kinh doanh (các loại giấy phép...), không cần phải chứng minh điều kiện thực tế, do vậy đánh giá “Năng lực kinh doanh thông thường” là phi lý nếu thực hiện tại thời điểm nộp đơn.

Điểm b :

- Không rõ “nhãn hiệu đã được người tiêu dùng có liên quan tại Việt Nam thừa nhận là dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự của người khác” thì khác với “các nhãn hiệu đang được người khác sử dụng tại Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự” nêu tại điểm a như thế nào?. Đồng thời cũng không rõ “ nhãn hiệu đã được người tiêu dùng có liên quan..” là loại nhãn hiệu nào mà lại lại trở thành “dấu hiệu chỉ nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ”, tức là không còn là nhãn hiệu nữa bởi vì theo quy định tại Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2025 thì “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

.Rất khó hoặc không thể  chứng minh việc đăng ký nhằm lợi dụng danh tiếng, uy tín của nhãn hiệu đó để thu lợi hoặc chủ yếu nhằm mục tiêu bán lại, cấp phép hoặc chuyển giao quyền đăng ký...để có thể hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu đăng ký  .

.Việc  yêu cầu  đối tượng so sánh là “nhãn hiệu nổi tiếng tại các nước khác”, cũng mang tính chủ quan vì không nhiều nước trên thế giới công nhận nhãn hiệu nổi tiếng như một trình tự đăng ký (phần lớn công nhận nhãn hiệu nổi tiếng thông qua các vụ việc tranh chấp), cụm từ “các nước khác” liệu có hạn chế khả năng áp dụng của quy định này nếu nhãn hiệu đối chứng được công nhận nổi tiếng chỉ tại một nước khác  nhưng đó là thị trường lớn và gắn bó với thị trường Việt Nam thì việc sao chép ... có không bị coi là “dụng ý xấu”?, hoặc trong trường hợp quyết định về công nhận nhãn hiệu nổi tiếng là khác biệt giữa các nước thì tiêu chí nào để cơ quan thẩm quyền VN xem xét ?.

3. Một số  vụ việc hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu liên quan  .

3.1 Việt Nam

Trước khi có quy định về dụng ý xấu tại Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, thì việc hủy bỏ hiệu lực áp dụng khái niệm “không trung thực” (điều 96.3 Luật sở hữu trí tuệ 2005).

Thực chất hai khái niêm này phải tương đương vì phải  phù hợp và tuân thủ với khái niệm “bad faith”  được thể hiện Điều 6 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở công nghiệp và  Điều 16 của Hiệp định TRIPS  mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên trong cả hai văn kiện này cũng không có định nghĩa hay quy định cụ thể về “bad faith”.

Dưới đây là một số vụ  Việt Nam với lý do không trung thực và nước ngoài (“bad faith”)

- Hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu “KingMax”[1] theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 77256 với lý do người nộp đơn không là đại lý cung ứng sản phẩm nhưng lại nộp đơn đăng ký nhãn hiệu như nhà sản xuất (che giấu mối quan hệ).

- Trong vụ việc hủy bỏ  GCNĐKNH số 116243 bảo hộ  nhãn hiệu “DESYLOIA”[2] bản án của Tòa đã có nhận xét về dấu hiệu không trung thực của người nộp đơn như sau:  Tại cùng một thời điểm, Công ty kỹ thuật TB tiến hành nộp đơn đăng ký một số nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được sử dụng rộng rãi của các chủ thể khác nhau. Điều này cho thấy, Công ty kỹ thuật TB cố ý đăng ký các nhãn hiệu này nhằm mục đích chiếm đoạt, lợi dụng uy tín, danh tiếng của các chủ sở hữu nhãn hiệu.

- Trong vụ kiện liên quan đến đơn  là đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf”[3]. Nguyên đơn khởi kiện phía Bị đơn  không trung thực khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “Aardwolf” số 4-2003-1139 tại Cục SHTT với lập luận rằng do  quá trình hợp tác trước đây giữa Bị đơn và Nguyên đơn  (ở nước ngoài) nên Bị đơn  đã biết việc sử dụng nhãn hiệu của Nguyên đơn  từ đó đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam.

3.2 Tại các nước

-         Năm 2021 Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Singapore (IPOS) hủy bỏ hiệu lực hai nhãn hiệu “Baidu”[4] do Baidu Europe BV sở hữu  vì đăng ký với dụng ý xấu , với lý do các nhãn hiệu của Baidu Châu Âu sẽ chỉ ra mối liên hệ và do đó gây ra thiệt hại, cũng như việc  các nhãn hiệu của Baidu Châu Âu đang giả mạo thành Baidu Trung Quốc.Một trong những lý do mà IPOS cho rằng Baidu Europe BV có liên hệ với Trung Quốc là trụ sở Co quan này treo cờ Trung Quốc.

-Trong phán quyết được đưa ra vào ngày 29 tháng 10 năm 2025, Tòa phúc thẩm Paris, đã tuyên bố hoàn toàn hủy bỏ nhãn hiệu Pháp được bị đơn  đăng ký năm 2019, do giống hệt nhãn hiệu  “Richard Mille”[5] cho đồng hồ, Tòa đã đánh giá hành vi gian lận trong đăng ký nhãn hiệu bị đơn theo các lập luận sau:

  Vào thời điểm nộp đơn, bị đơn không thể nào phớt lờ danh tiếng toàn cầu của Richard Mille,

  Bị đơn  đã đăng ký nhiều nhãn hiệu giống hệt hoặc gần giống với các nhãn  hiệu nổi tiếng toàn cầu (UNIVERSAL, ADIDAS, YEEZY, GOOGLE CA...)

  Ngay sau khi giành được phán quyết có lợi trong các thủ tục tố tụng trước đó, Bị đơn đã tiếp cận Turlen Holding đề xuất một “thỏa thuận hòa giải”, hành vi này phản ánh ý định rõ ràng nhằm thu lợi tài chính một cách bất chính.

- Năm 2024 Tòa án Tối cao Anh đưa ra phán quyết trong vụ SkyKick UK Ltd kiện Sky Ltd[6] (vi), vụ án này   đáp ứng mối  quan tâm chính của cộng đồng sở hữu trí tuệ (IP) là ý nghĩa của quy định“bad faith" theo luật nhãn hiệu. Tòa án Tối cao đã chấp nhận kháng cáo một phần của SkyKick, cho rằng trong một số trường hợp nhất định, nhãn hiệu có thể bị thu hồi vì hành vi không trung thực nếu không có ý định sử dụng nhãn hiệu đó cho tất cả các hàng hóa và dịch vụ mà nhãn hiệu đó đã được áp dụng. Điều này đặc biệt đúng nếu ý định tại thời điểm nộp đơn chỉ đơn giản là sử dụng nhãn hiệu đó như một vũ khí pháp lý chống lại các thương nhân khác  (Tòa án Tối cao cũng lưu ý rằng Sky đã dựa vào khoảng 800 quyết định 'có lợi ' về nhãn hiệu  trên toàn thế giới mà họ đã thành công).

Từ các vụ việc trên có thể thấy việc đăng ký nhãn hiệu được xác định là không trung thực /“bad faith" theo rất nhiều lý do khác biệt ,nhưng các  lý do xác định hành vi không  hợp với hoàn cảnh  được quy định tại điều 112 Thông tư 10 nêu trên ,

4. Nhận xét

Thông thường các văn bản pháp luật tại  đưa ra quy định về đánh giá  “dụng ý xấu” trong chỉ bao gồm các nội dung chung nhất , hướng tới việc ngăn chặn các hậu quả như gây nhầm lẫn, tiếm đoạt nhãn hiệu và làm tổn hại đến chủ nhãn hiệu chân chính cũng như người tiêu dùng , quy định như vậy phù hợp để ngăn chặn hiện tượng đăng ký nhãn hiệu với “dụng ý xấu” được diễn ra với nhiều hình thức đa dạng, khác biệt.

Trong một thời gian dài Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam không đưa ra hướng dẫn chi tiết về hành vi “không trung thực” trong đăng ký nhãn hiệu, mặc dù Điều 96.3 đã quy định “Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn” (Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định “không trung thực” trong Điều 96 và 117). Trong thực tiễn, các cơ quan thẩm quyền xác định hành vi này theo tình huống cụ thể, với tiêu chí đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh và bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, đặc biệt chống lại việc tiếm đoạt quyền nhãn hiệu, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và đã giải quyết được nhiều vụ việc tranh chấp phức tạp như các ví dụ nêu trên.

Tóm lại, việc định nghĩa và xây dựng tiêu chí hướng dẫn xác định hành vi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có “dụng ý xấu” (bad faith) hiện vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận chuyên môn sâu. Dưới góc nhìn của các chuyên gia và đại diện sở hữu công nghiệp, quy định của Khoản 3 Điều 112 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN bộc lộ một số bất cập khi mang tính định tính cao, phức tạp và chưa bám sát thực tiễn thương mại. Những tiêu chí này vô hình trung tạo ra rào cản kỹ thuật quá mức, thiếu tính khả thi đối với nghĩa vụ chứng minh của chủ thể quyền. Hệ quả pháp lý là không chỉ gây khó khăn cho việc áp dụng thực thi, thu hẹp phạm vi bảo hộ của pháp luật, mà còn dẫn đến nguy cơ bỏ lọt các hành vi đầu cơ, chiếm đoạt nhãn hiệu tinh vi trên thực tế./.

Nguồn:  

- Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 số 131/2025/QH15 
- Nghị định số 65/2023/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp....
- Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN của Bộ KH-CN: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT và Nghị định số 65/2023/NĐ-CP...

Các bài viết khác