Logo

Luật Sở hữu trí tuệ 2025: Quy định về phản đối đơn đăng ký SHCN 

26/05/2026
Luật SHTT 2025 rút ngắn hơn nữa thời hạn phản đối đơn so với Luật SHTT 2022 ...

Luật Sở hữu trí tuệ đầu tiên của Việt Nam (Luật số 50/2005/QH11, được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ 1/7/2005 -“Luật SHTT 2005”) đã được sửa đổi, bổ sung bởi nhiều Luật trong các năm 2009, 2019, 2022 và gần đây nhất là bởi Luật số 131/2025/QH15, ban hành ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 (sau đây gọi là Luật SHTT 2025).

Ngay sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2023/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 100/NĐ-CP, có hiệu lực từ 01/04/2026) và Bộ KH-CN đã ban hành Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN, có hiệu lực từ 01/04/2026  để chi tiết hóa và hướng dẫn thực hiện cụ thể các Khoản, Điều cuả Luật SHTT.

Bài viết này chỉ đề cập tới các quy định liên quan tới quy trình phản đối đơn khi thẩm định các đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (SHCN).

1.       Tại Luật SHTT 2025

(a) Quy định về phản đối đơn đăng ký SHCN được quy định tại Điều 112a. Cụ thể như sau:

Điều 112a. Phản đối đơn đăng ký sở hữu công nghiệp

1. Trong các thời hạn sau đây, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ:

a) Sáu tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố hoặc ba tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được thẩm định nội dung nhanh theo quy định tại khoản 2a Điều 119 của Luật này;

b) Ba tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, đơn đăng ký nhãn hiệu, đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố.

2. Ý kiến phản đối quy định tại khoản 1 Điều này phải được lập thành văn bản kèm theo tài liệu hoặc trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh và phải nộp phí, lệ phí.

3. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xử lý ý kiến phản đối tại khoản 2 Điều này.

Như vậy, một lần nữa thời hạn phản đối đơn đăng ký sở hữu công nghiệp lại được rút ngắn đáng kể so với quy định tại Luật SHTT 2022, cụ thể là với sáng chế chỉ còn 06 tháng (thay vì 09 tháng), với  kiểu dáng công nghiệp chỉ còn 03 tháng (thay vì 04 tháng), với nhãn hiệu chỉ còn 03 tháng (thay vì 05 tháng), còn thời hạn đối với chỉ dẫn địa lý vẫn giữ nguyên là 03 tháng. Trước khi Luật SHTT 2022 có hiệu lực (là ngày 1/1/2023) thời hạn phản đối đơn được quy định là từ ngày đơn được công bố đến trước ngày văn bằng bào hộ được cấp.

(b) Điều 117. Từ chối cấp văn bằng bảo hộ

Trước đây, Luật SHTT 2022 tại điểm 3a Điều 117.Từ chối cấp văn bằng bảo hộ đã quy định như sau:

Điều 117. Từ chối cấp văn bằng bảo hộ

“3. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 1a (cụ thể là đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ) và 2 (cụ thể là Đơn đăng ký thiết kế bố trí không đáp ứng yêu cầu về hình thức) của Điều này thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thực hiện các thủ tục sau đây:

a. [Cục SHTT] Thông báo kết quả thẩm định nội dung, trong đó nêu rõ dự định từ chối cấp văn bằng bảo hộ, lý do và ấn định thời hạn để người nộp đơn có ý kiến phản đối dự định từ chối”.

Luật SHTT 2025 đã bãi bỏ toàn bộ Khoản 3, trong đó có điểm 3.a nói trên. Như vậy sẽ không còn thủ tục “Thông báo kết quả thẩm định nội dung” và việc phản đối, nếu có, đối với thông báo. Cục SHTT, căn cứ vào quả thẩm định nội dung sẽ ra Quyết định cấp bằng hoặc từ chối cấp bằng. Nếu không đồng ý với quyết định từ chối cấp bằng của Cục SHTT, người nộp đơn có thể thực hiện thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa án.

2. Quy định tại Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN  

Thông tư số 10/2026/TT- BKHCN của Bộ KH-CN ngày 31/3/2026, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 đã quy định và hướng dẫn chi tiết việc xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký SHCN tại 4 điều sau đây:

Điều 27.Xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký sáng chế;

Điều 59. Xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp;

Điều 82. Xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu và

Điều 103. Xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý.

Các Điều nói trên có cấu trúc tương tự, chứa các nội dung sau: Yêu cầu đối với đơn; Các thời hạn trong việc xử lý đơn liên quan tới Cục SHTT và người nộp đơn; Điều kiện tổ chức đối thoại giữa người nộp đơn đăng ký SHCN và người phản đối; Đình chỉ giải quyết phản đối; Thông báo kết quả giải quyết phản đối của Cục SHTT...

Đặc biệt có một điểm mới liên quan đến khởi kiện tại Tòa án, nội dung cụ thể như sau:

3. Trường hợp ý kiến của người phản đối liên quan đến quyền đăng ký SHCN, ý kiến phản đối được xử lý như sau:

a) Cục SHTT thông báo để người phản đối nộp đơn khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và ấn định thời hạn 02 tháng kể từ ngày thông báo để người phản đối gửi bản sao thông báo thụ lý vụ án của Tòa án;

b) Kết thúc thời hạn quy định tại điểm a khoản này mà người phản đối không gửi bản sao thông báo thụ lý vụ án, ý kiến phản đối được coi như rút bỏ và đơn đăng ký SHCN được tiếp tục xử lý như không có ý kiến phản đối.

c) Trường hợp Cục SHTT nhận được bản sao thông báo thụ lý vụ án của Tòa án trong thời hạn quy định tại điểm a khoản này, Cục SHTT tạm dừng việc xử lý đơn đăng ký SHCN để chờ kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này (tức là đơn đăng ký được rút bỏ). Việc xử lý đơn sẽ được tiếp tục thực hiện ngay sau khi Cục Sở hữu trí tuệ nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Riêng đối với phản đối đơn nhãn hiệu tại Điều 82.3 thì một số ý kiến liên quan đến quyền nộp đơn vẫn được giải quyết tại Cục SHTT, đó là các trường hợp :

a1) Có cơ sở rõ ràng để xác định về việc người nộp đơn không có quyền đăng ký theo quy định tại khoản 2 và 7 Điều 87 của Luật Sở hữu trí tuệ (2);

a2) Ý kiến phản đối về quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đối với dấu hiệu là hoặc có chứa dấu hiệu là địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 87 của Luật Sở hữu trí tuệ;

a3) Ý kiến phản đối về quyền nộp đơn đăng ký mà không kèm theo tài liệu, trích dẫn nguồn thông tin để chứng minh hoặc có kèm theo tài liệu, trích dẫn nguồn thông tin nhưng tài liệu, trích dẫn nguồn thông tin không đủ cơ sở để xác định người nộp đơn không có quyền đăng ký

3. Nhận xét

- Với việc sửa đổi Điều 112a và Điều 117 như trên, Luật SHTT 2025 chấm dứt tình trạng hai chủ thể khác nhau (tức là “bên thứ ba” và “người nộp đơn”) đều có thể thực hiện thủ tục phản đối[1]. Giờ đây, người nộp đơn chỉ còn được phép thực hiện thủ tục khiếu nại đối với các quyết định của Cục SHTT. Sự phân định rõ này cũng giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý đơn đăng ký và giảm bớt khối lượng công việc cho các thẩm định viên của Cục SHTT;

- Về những phản đối liên quan đến quyền đăng ký SHCN: Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN quy định việc này sẽ do Tòa án thụ lý thay vì Cục SHTT. Như vậy là hợp lý vì Tòa án mới là nơi phù hợp để xem xét và kết luận về quyền nhân thân của một cá nhân; Cục SHTT chỉ nên tập trung năng lực và thời gian vào việc đánh giá các nội dung kỹ thuật của đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các yêu cầu bảo hộ theo luật định hay không?. Nếu để Cục SHTT thực hiện viejc này sẽ tốn nhiều thời gian, không hiệu quả, và khi một bên liên quan không đồng ý với quyết định của Cục SHTT thì chắc chắn sẽ lại phải khởi kiện ra tòa án. Ví dụ điển hình là vụ nhãn hiệu “AARDWOLF & hình bản đồ nước Úc ” – vụ việc kéo dài hơn 10 năm và quyết định cuối cùng thuộc về Toà án [2];

- Tuy nhiên nếu quy định tại Điểm a.3 khoản 3  Điều 82. Xử lý ý kiến phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu - theo đó nếu Cục SHTT có “cơ sở rõ ràng để xác định người nộp đơn không có quyền đăng ký..., hoặc ý kiến phản đối về quyền nộp đơn không kèm theo tài liệu/thông tin tin cậy để chứng minh ...” thì Cục SHTT có thể xử lý ý kiến phản đối trong quá trình thẩm định nội dung - cũng được thể hiện trong các Điều 27, 59, 103 (dành cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý) thì phù hợp hơn. Không nhất thiết là mọi nội dung phản đối về quyền đăng ký của người thứ ba đều phải chuyển cho Tòa án giải quyết.

- Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN cũng chưa làm rõ là trong trường hợp phản đối được chuyển cho Tòa án giải quyết thì người nộp đơn có phải nộp phí và lệ phí như các trường hợp phản đối khác do Cục SHTT giải quyết hay không? Đồng thời cũng chưa làm rõ trường hợp là nếu đơn SHCN vẫn được xử lý do đơn khởi kiện chưa được thụ lý trong thời hạn 2 tháng mà phán quyết sau này của Tòa án xung đột với kết quả thẩm định đơn SHCN của Cục SHTT thì giải quyết thế nào?.

Cuối cùng, theo quy định tại các Điều khoản thi hành, Luật SHTT 2025  và Thông tư 10/2026/TT-BKHCN chỉ có hiệu lực từ ngày 01/4/2026, có nghĩa là các đơn phản đối đối với các đơn đăng ký SHCN được chấp nhận hợp lệ trước ngày 01/4/2026 vẫn áp dụng các quy định của Luật SHTT 2022.

Nguồn : 
Thông tư 10/2026/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 65/2023/NĐ-CP 
Văn bản hợp nhất 155/VBHN-VPQH 2025 Luật Sở hữu trí tuệ

 

Các bài viết khác