Logo

Luật Nhãn hiệu Trung Quốc: Những thay đổi quan trọng có hiệu lực từ ngày 1/1/2027

27/07/2026
UBTV Quốc hội Trung Quốc đã thông qua sửa đổi toàn diện Luật Nhãn hiệu nhằm từ bỏ mô hình quá coi trọng đăng ký mà bỏ qua việc sử dụng thực tế.

Luật Sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu đã có hiệu lực từ năm 1983 và đã được sửa đổi nhiều lần vào các năm 1993, 2001, 2013 và 2019. Trong những năm gần đây, các vấn đề như chiếm đoạt nhãn hiệu với ý đồ xấu và đăng ký hàng loạt nhãn hiệu mà không có mục đích sử dụng thực tế vẫn nổi bật ở Trung Quốc. Để chống lại những hành vi sai trái này và chuyển đổi khỏi mô hình quản lý nhãn hiệu quá coi trọng đăng ký mà bỏ qua việc sử dụng thực tế, vào ngày 26 tháng 6 năm 2026, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi toàn diện Luật Nhãn hiệu Trung Quốc.

Luật sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2027 , với tổng số điều tăng từ 73 lên 87 và bao quát nhiều nội dung như tinh chỉnh điều kiện đăng ký nhãn hiệu, nâng cao việc  bảo vệ nhãn hiệu nổi tiếng, và củng cố các cơ chế thực thi , v.v.sẽ ảnh hưởng đến chủ sở hữu nhãn hiệu, bên được cấp phép và các chủ thể  hoạt động tại Trung Quốc. Dưới đây là một số  thay đổi đáng chú ý.

1. Đăng ký nhãn hiệu  động 

Luật sửa đổi đã mở rộng các loại dấu hiệu có thể đăng ký để bao gồm cả nhãn hiệu động (动态标志). Điều 14 hiện liệt kê nhãn hiệu động cùng với chữ, hình ảnh, chữ cái, số, nhãn hiệu ba chiều, kết hợp màu sắc và nhãn hiệu âm thanh như những dấu hiệu có thể đăng ký làm nhãn hiệu. Sự bổ sung này phản ánh việc sử dụng ngày càng nhiều các dấu hiệu  động, đồ họa chuyển động và các định danh thương hiệu dựa trên thời gian trong môi trường kỹ thuật số.

2. Bổ sung quy định về internet trong sử dụng nhãn hiệu  

Theo Luật Nhãn hiệu năm 2019, việc sử dụng nhãn hiệu được định nghĩa là gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì, thùng chứa hoặc giấy tờ giao dịch, hoặc sử dụng nhãn hiệu trong quảng cáo, triển lãm, hoặc các hoạt động thương mại khác, nhằm mục đích xác định nguồn gốc hàng hóa. Luật sửa đổi vẫn giữ định nghĩa này nhưng thêm một đoạn mới vào Điều 2 nêu rõ rằng việc sử dụng nhãn hiệu bao gồm cả việc sử dụng “thông qua internet và các mạng thông tin khác” (通过互联网等信息网络实施的使用行为). Việc ghi nhận rõ ràng việc sử dụng trực tuyến có ý nghĩa thực tiễn trong nhiều bối cảnh: nó làm rõ rằng việc sử dụng trên các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và các kênh kỹ thuật số khác được tính vào việc đáp ứng yêu cầu sử dụng để chống lại các thủ tục chấm dứt  do không sử dụng; đồng thời cũng có nghĩa là các hành vi vi phạm trực tuyến hoàn toàn nằm trong phạm vi các hành vi có thể cấu thành xâm phạm nhãn hiệu và kích hoạt các biện pháp thực thi hành chính.

3. Mở rộng quy định về  nguyên tắc trung thực

Luật Nhãn hiệu năm 2019 chỉ nêu rằng việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu nên tuân theo nguyên tắc trung thực (诚实信用原则) trong một câu duy nhất. Điều 9 sửa đổi vẫn giữ nghĩa vụ này và bổ sung thêm cấm rõ ràng “lạm dụng quyền để gây hại lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” (不得滥用权利损害国家利益、社会公共利益或者他人合法权益). Nội dung chống lạm dụng này giúp cơ quan thực thi và tòa án có cơ sở pháp lý rộng hơn để xử lý những hành vi  dù không rõ ràng thuộc các loại đăng ký gian lận đã liệt kê, nhưng lại sử dụng quyền nhãn hiệu theo cách gây hại cho bên thứ ba hoặc công chúng.

4. Bổ sung quy định  loại trừ về  tính chức năng cho tất cả các nhãn hiệu phi truyền thống

Luật năm 2019 chỉ áp dụng học thuyết chức năng cho các nhãn hiệu ba chiều: các hình dạng xuất phát từ bản chất của sản phẩm, các hình dạng cần thiết để đạt được kết quả kỹ thuật và các hình dạng mang lại giá trị đáng kể cho sản phẩm sẽ bị loại trừ khỏi đăng ký nhãn hiệu. Điều 18 sửa đổi mở rộng loại trừ này sang các tổ hợp màu, nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu động ngoài các nhãn hiệu ba chiều. Tương ứng, Điều 73 hiện nay quy định rằng chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký không có quyền cấm người khác sử dụng hợp pháp các yếu tố chức năng trong bất kỳ loại nhãn hiệu phi truyền thống nào này.

5. Bổ sung quy định nộp đơn sau khi  đăng ký nhãn hiệu tự nguyện chấm dứt

Điều 49 sửa đổi đưa ra quy định cấm nộp đơn trong vòng một năm sau khi chấm dứt  nhãn hiệu đã đăng ký một cách tự nguyện/ voluntary cancellation. Trong vòng một năm kể từ khi thông báo chấm dứt nhãn hiệu  tự nguyện, cơ quan nhãn hiệu nhà nước sẽ không chấp thuận các đơn của bên thứ ba cho các nhãn hiệu giống hoặc tương tự trên hàng hóa cùng loại hoặc tương tự. Luật năm 2019 đã có quy định cấm trong một năm đối với các nhãn hiệu bị hủy, bị tuyên vô hiệu hoặc hết hạn mà không gia hạn, nhưng việc áp dụng quy định này cho chấm dứt  tự nguyện thì chưa rõ ràng.

6. Xử phạt  đối với  người nộp đơn đăng  ký nhãn  hiệu với ý định xấu

Luật năm 2019 chủ yếu xử lý việc đăng ký nhãn hiệu với ý định xấu thông qua các quy định từ chối và các hình phạt hướng tới các tổ chức đại diện nhãn hiệu[1] (1). Điều 54 được sửa đổi tạo ra một quy định xử phạt hành chính riêng, nhắm trực tiếp vào chính người nộp đơn nhãn hiệu. Khi người nộp đơn thực hiện các hành vi đăng ký có ý định xấu gây ra tác động bất lợi, cơ quan thực thi nhãn hiệu có thể đưa ra cảnh cáo và phạt tới 100.000 nhân dân tệ. Những hành vi được liệt kê là: cố ý đăng ký nhãn hiệu vi phạm lệnh cấm  đối với các biểu tượng  của Đảng Cộng sản Trung Quốc hoặc lệnh cấm tên địa lý; nộp đơn không có mục đích sử dụng rõ ràng và vượt quá nhu cầu kinh doanh bình thường; và cố tình nộp đơn vi phạm các quy định bảo vệ nhãn hiệu nổi tiếng...

7. Quy định về  các vấn đề về nhãn hiệu ở nước ngoài

Điều 69 là điều mới trong luật sửa đổi và đề cập đến hai tình huống khác nhau liên quan đến hoạt động nhãn hiệu ngoài biên giới Trung Quốc. Thứ nhất, khi cần xác nhận tình trạng nổi tiếng của một nhãn hiệu ở Trung Quốc trong quá trình thẩm định nhãn hiệu ở nước ngoài hoặc các vụ kiện nhãn hiệu, Cục Quản lý Sở hữu Trí tuệ Quốc gia có thể, theo yêu cầu,sẽ  chính thức  xác nhận tình trạng nổi tiếng theo các yếu tố công nhận được quy định tại Điều 63. Điều này cung cấp một cơ chế để chủ sở hữu nhãn hiệu Trung Quốc có được tài liệu chính thức về tình trạng nổi tiếng để sử dụng trong các thủ tục nước ngoài.

Thứ hai, khi một đại lý nhãn hiệu xử lý đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài hoặc các vấn đề nhãn hiệu khác cho khách hàng Trung Quốc bằng cách gian lận hoặc các phương tiện không hợp pháp khác, gây tổn hại cho lợi ích của khách hàng hoặc lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, hoặc quyền hợp pháp của người khác, các quy định về xử phạt hành vi sai phạm của đại lý sẽ được áp dụng.

8.Quy định  về trừng phạt hành vi  lạm dụng tố tụng

Điều 81 là quy định mới trong luật sửa đổi và đề cập đến việc sử dụng kiện tụng về nhãn hiệu như một công cụ quấy rối hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Khi một bên khởi kiện nhãn hiệu thông qua sự cấu kết ác ý với bên khác, hoặc thông qua việc  tạo dựng các sự kiện cơ bản của vụ việc, tòa án có thể áp dụng các biện pháp trừng phạt theo quy định tố tụng hiện hành. Nếu hành vi này gây thiệt hại cho bên  đối địch , bên chịu trách nhiệm phải bồi thường dân sự. Quy định này nhằm giải quyết một vấn đề đã được nhận biết trong thực tiễn nhãn hiệu Trung Quốc: việc nộp các khiếu kiện xâm phạm không có cơ sở hoặc được tạo ra nhằm làm gián đoạn đối thủ hoặc ép họ phải dàn xếp. Quy định không định nghĩa chính xác ngưỡng của “cấu kết ác ý” hay “tạo dựng các sự kiện cơ bản,” và các tòa án sẽ cần phát triển các tiêu chuẩn thông qua án lệ.

9.Các quy định mới xử lý việc sử dụng nhãn hiệu “không phù hợp”

Điều 56 : Sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký theo cách gây hiểu nhầm có thể dẫn đến phạt tiền lên đến 5 lần doanh thu bất hợp pháp (hoặc lên đến 250.000 NDT nếu doanh thu dưới 50.000 NDT). Trong những trường hợp nghiêm trọng, cơ quan chức năng có thể hủy đăng ký nhãn hiệu liên quan.

Điều 57 (tương ứng với Điều 49 hiện tại): Trong quá trình sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký, người đăng ký sẽ nhận được lệnh sửa chữa hoặc bị phạt tiền lên đến 50.000 NDT nếu nếu người đăng ký thay đổi các nhãn hiệu đã đăng ký, tên chủ sở hữu, địa chỉ chủ sở hữu hoặc các thông tin đăng ký khác. Trong những trường hợp nghiêm trọng, cơ quan chức năng có thể hủy bỏ đăng ký nhãn hiệu liên quan.

Điều 70: Bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng có thể báo cáo các nhãn hiệu đã đăng ký được sử dụng một cách gây hiểu nhầm, các hành vi xâm phạm hoặc các hành vi phi pháp khác với cơ quan chức năng.

10.Bên cấp phép có thể chấm dứt hợp đồng nếu bên được cấp phép không thực hiện đúng nghĩa vụ đảm bảo chất lượng

Luật hiện hành đã yêu cầu các bên cấp phép giám sát chất lượng hàng hóa của bên được cấp phép. Điều 55 còn quy định: “Nếu bên được cấp phép không thực hiện đúng nghĩa vụ đảm bảo chất lượng, bên cấp phép có quyền chấm dứt hợp đồng cấp quyền sử dụng  nhãn hiệu”./.

Nguồn: 
1. 
China's Trademark Law Overhauled: Key Changes Taking Effect January 1, 2027 - China IP Law Update - 
https://www.chinaiplawupdate.com/2026/06/chinas-trademark-law-overhauled-key-changes-taking-effect-january-1-2027/ 
2. 
China's revised trade mark law | What brand owners need to know  - Spruson & Ferguson 
https://www.spruson.com/china-revised-trade-mark-law-for-brand-owners/

 

Các bài viết khác