Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến thực thi quyền SHTT như Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 17/5/2025, Công điện số 65/CĐ-TTg ngày 15/5/2025, Công điện số 72/CĐ-TTg ngày 24/5/2025 và Công điện hỏa tốc số 82/CĐ-TTg ngày 04/6/2025 với nội dung yêu cầu phát động và duy trì các đợt cao điểm toàn quốc với nhiều biện pháp thanh tra, kiểm tra để hạn chế các hành vi xâm phạm quyền SHTT.
Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền SHTT vẫn diễn ra phức tạp, tinh vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư, quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và uy tín quốc gia trong hội nhập quốc tế.
Trước tình hình đó, tháng 12/2025 Bộ Khoa học và Công nghệ đã Dự thảo Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về Chỉ thị về Tăng cường thực thi quyền SHTT (“Dự thảo Chỉ thị”) cùng với Dự thảo Ban hành Chỉ thị về Tăng cường thực thi quyền SHTT (“Dự thảo Ban hành Chỉ thị”) để Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành. Bản Dự thảo Chỉ thị đã được gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương, trong đó có các bộ, ngành chủ chốt và có chức năng quản lý nhà nước liên quan trực tiếp đến nội dung của Dự thảo Chỉ thị để xin ý kiến. Các ý kiến đã được tổng hợp và thể hiện trong Dự thảo Ban hành Chỉ thị.
Dưới đây lxin trích dẫn một phần nội dung của Dự thảo Chỉ thị.
.......
....Trong những năm qua, công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản có liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ như Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 17/5/2025, Công điện số 65/CĐ-TTg ngày 15/5/2025, Công điện số 72/CĐ-TTg ngày 24/5/2025 và Công điện hỏa tốc số 82/CĐ-TTg ngày 04/6/2025. Các cơ quan chức năng đã triển khai nhiều biện pháp thanh tra, kiểm tra; nhiều vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được phát hiện, xử lý; góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra phức tạp, tinh vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đầu tư, quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp và uy tín quốc gia trong hội nhập quốc tế.
I. TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
1. Tình hình
a) Tình trạng xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan trên môi trường số trở thành thách thức lớn đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phổ biến nhất là các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm âm nhạc, trò chơi điện tử, các nội dung phim, truyền hình, giải đấu thể thao phát trực tiếp.
b) Tình trạng sản xuất, buôn bán, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường truyền thống và đặc biệt là trên các nền tảng thương mại điện tử ngày càng gia tăng cả về tính chất và số lượng cũng như mức độ tinh vi, phức tạp.
c) Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có chiều hướng gia tăng, thường gắn với các loại tội phạm về kinh tế, buôn lậu, hoạt động vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, lợi dụng kho ngoại quan và hệ thống dịch vụ logistics, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, giám sát hải quan, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh kinh tế và trật tự quản lý thị trường.
d) Các hành vi vi phạm bị xử lý chủ yếu liên quan đến hàng giả không thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trong khi trên thực tế bao gồm cả hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, các vụ việc vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ chủ yếu bị xử lý hành chính, rất ít vụ việc bị xử lý hình sự.
2. Nguyên nhân
a) Một số quy định pháp luật chưa theo kịp sự phát triển nhanh của công nghệ số và thương mại điện tử, một số quy định chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng khó áp dụng.
b) Công tác bảo vệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ của một số bộ, ngành, địa phương còn hạn chế; nhận thức, trách nhiệm của một số người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị, lực lượng chức năng chưa cao, chưa thực sự quyết liệt, chưa bám sát thực tiễn.
c) Chưa đặt trọng tâm xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vì còn có những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật, công tác giám định và sự phối hợp của chủ thể quyền. Các cơ quan còn thiếu nguồn lực, trang thiết bị cần thiết trong việc phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
d) Công tác phối hợp liên ngành còn chưa tốt, việc chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các bộ, ngành còn hạn chế; chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chung; quy trình phối hợp chưa thống nhất; thiếu đầu mối phối hợp liên ngành.
đ) Việc nhận diện, truy vết và xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường số, các trang web có hành vi xâm phạm quyền còn gặp nhiều khó khăn do yêu cầu chuyên môn và kỹ thuật cao; các tên miền thường xuyên thay đổi, sử dụng các kỹ thuật ẩn danh, đồng thời sử dụng các máy chủ ở nước ngoài. Tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa tại thị trường nội địa và xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng do phương thức, thủ đoạn xâm phạm quyền của các đối tượng ngày càng tinh vi.
1. Mục tiêu
Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi, hạn chế thấp nhất tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường truyền thống và trên môi trường số để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh, nâng cao uy tín quốc gia, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững.
2. Quan điểm
a) Công tác đấu tranh phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là công việc quan trọng, cấp bách, là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài, cần có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là cấp cơ sở.
b) Công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải mang tính đồng bộ giữa các cơ quan thực thi, giữa các cấp, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo về thẩm quyền; phải có cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp, hướng dẫn nghiệp vụ và bảo đảm thống nhất trong xử lý vi phạm trên toàn quốc.
c) Công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải gắn với chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại, bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế.
d) Lấy phòng ngừa là chính, tuy nhiên, thời gian tới phải đẩy mạnh xử lý nghiêm, công khai, minh bạch, đảm bảo tính răn đe.
III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Giải pháp về thể chế
a) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đề xuất sửa đổi các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ, các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ để bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; bổ sung, nâng cao các chế tài xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả nhằm tăng tính răn đe; quy định trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian và chủ thể đăng ký tên miền, quản trị, vận hành trang web cung cấp nội dung, dịch vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hoàn thiện các quy định pháp luật về giám định sở hữu trí tuệ.
b) Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền: (i) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính để mở rộng phạm vi điều chỉnh cho hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, qua đó gia tăng tính răn đe đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Sửa đổi Bộ luật Hình sự để mở rộng phạm vi điều chỉnh của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và nâng mức xử lý hình sự để tăng tính răn đe.
2. Giải pháp về tổ chức thực hiện và phối hợp liên ngành
a) Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Công an, Bộ Tài chính tăng cường hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử.
b) Bộ Công an chỉ đạo các lực lượng nghiệp vụ và công an địa phương điều tra, xác lập chuyên án, đấu tranh quyết liệt với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan trên các lĩnh vực có giá trị kinh tế lớn; phối hợp các cơ quan tố tụng đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
c) Bộ Quốc phòng chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát Biển phối hợp với lực lượng Công an và các lực lượng chức năng tuần tra, kiểm soát khu vực biên giới, phòng, chống hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
d) Bộ Công Thương: (i) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các vụ việc sản xuất, kinh doanh, buôn bán hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai kịp thời Luật Thương mại điện tử sau khi được Quốc hội ban hành.
đ) Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan để phát hiện, xử lý kịp thời các vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh hàng hóa.
e) Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát, xét xử các vụ án về sở hữu trí tuệ.
g) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm về quyền tác giả và quyền liên quan.
h) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, thiết lập đầu mối phối hợp giữa các Bộ, ngành liên quan.
i) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, Ủy ban nhân dân cấp xã, lực lượng quản lý thị trường địa phương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn.
3. Giải pháp về công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Công thương, Bộ Tài chính và các địa phương nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường ứng dụng các biện pháp công nghệ để phát hiện và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.
4. Giải pháp về nâng cao năng lực
a) Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, phát hành tài liệu và đào tạo cán bộ phục vụ hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ và xét xử các vụ án trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
b) Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền đảm bảo nguồn ngân sách nhà nước hằng năm cho hoạt động của các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực.
5. Giải pháp về tuyên truyền và nâng cao nhận thức
a) Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình truyền thông chuyên đề, tăng thời lượng tuyên truyền về những tác hại của hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; các thủ đoạn, phương thức gian lận, lừa đảo; biểu dương những tấm gương tích cực, cách làm hay; phê phán, lên án những hành vi tiêu cực, thiếu tinh thần trách nhiệm.
b) Bộ Ngoại giao tích cực cung cấp thông tin cho các đối tác quốc tế về nỗ lực của Việt Nam trong công tác phòng, chống hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
c) Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đưa chương trình giáo dục về sở hữu trí tuệ vào các hệ, cấp học phù hợp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức, năng lực chấp hành pháp luật về sở hữu trí tuệ; góp phần hình thành văn hóa sở hữu trí tuệ trong cộng đồng.
6. Giải pháp về hợp tác quốc tế
Các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc thu thập, chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ xuyên biên giới; tranh thủ tận dụng các nguồn lực quốc tế để nâng cao năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các cơ quan của Việt Nam.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương, các Hiệp hội, các doanh nghiệp và toàn thể người dân cùng tham gia công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đấu tranh phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khẩn trương quán triệt, xây dựng kế hoạch và triển khai đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, có hiệu quả theo phương châm 6 rõ: “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”; chỉ đạo các cơ quan thuộc phạm vi quản lý thực hiện nghiêm các nhiệm vụ nêu tại Chỉ thị này; chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện Chỉ thị này, định kỳ hằng quý, hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện...
(hết trích )