Tóm tắt
Bài viết phân tích trách nhiệm của nhà nhập khẩu/nhà phân phối khi sản phẩm do mình đưa vào thị trường Việt Nam xâm phạm sáng chế. Trọng tâm là sự phân biệt giữa trách nhiệm đối ngoại với chủ thể quyền và quan hệ phân bổ rủi ro, bồi hoàn giữa nhà phân phối với nhà sản xuất; đồng thời xem xét ý nghĩa của giấy phép lưu hành, chứng cứ giám định và bồi thường thiệt hại.
Từ khóa: sáng chế; nhà phân phối; nhà nhập khẩu; xâm phạm quyền; hợp đồng phân phối; giám định sở hữu trí tuệ; bồi thường thiệt hại; án lệ.
1. Đặt vấn đề
Dự thảo án lệ số 21/2026 lấy nguồn từ Bản án sơ thẩm số 150/2024/KDTM-ST của TAND TP.HCM. Vụ án đặt ra câu hỏi có tính nguyên tắc: một doanh nghiệp chỉ nhập khẩu và phân phối tại Việt Nam có thể tránh trách nhiệm xâm phạm sáng chế bằng cách viện dẫn rằng mình không phải nhà sản xuất, sản phẩm đã được cấp phép lưu hành, hoặc nhà sản xuất đã cam kết chịu trách nhiệm sở hữu trí tuệ hay không?
2. Tình tiết và vấn đề pháp lý
Công ty M là chủ sở hữu Bằng độc quyền sáng chế số 5684 và 7037. Công ty H ký hợp đồng phân phối với Công ty G tại Pakistan và nhập khẩu, phân phối Getxx 50mg và 100mg tại Việt Nam. Sản phẩm chứa Sitagliptin phosphate monohydrate. Kết luận giám định do Tòa án trưng cầu xác định hoạt chất trong hai thuốc là yếu tố xâm phạm quyền đối với các điểm yêu cầu bảo hộ của hai bằng sáng chế.
Bị đơn lập luận rằng Công ty G là nhà sản xuất và bên đăng ký lưu hành, đã cam kết về sở hữu trí tuệ và bồi hoàn cho nhà phân phối. Vì vậy, vụ án buộc Tòa án phân biệt trách nhiệm xâm phạm trước chủ sở hữu sáng chế với trách nhiệm hợp đồng giữa nhà sản xuất và nhà phân phối.
3. Nhà phân phối là chủ thể thực hiện hành vi sử dụng sáng chế
Tòa án gắn trách nhiệm với hành vi thực tế tại Việt Nam chứ không với tư cách nhà sản xuất. H đã nhập khẩu và phân phối sản phẩm chứa yếu tố xâm phạm trong thời hạn hiệu lực của văn bằng mà không được phép của chủ sở hữu. Tòa chấp nhận yêu cầu đối với các hành vi nhập khẩu, lưu thông, quảng cáo, chào hàng và tàng trữ để lưu thông.
Điểm này có giá trị khái quát: độc quyền sáng chế không chỉ chống lại hành vi sản xuất. Một doanh nghiệp không trực tiếp tạo ra sản phẩm vẫn có thể thực hiện hành vi xâm phạm độc lập khi thương mại hóa sản phẩm thuộc phạm vi bảo hộ.
4. Giấy phép lưu hành không phải là giấy phép sử dụng sáng chế
Việc cơ quan quản lý dược cho phép thuốc lưu hành không tự thân trao quyền sử dụng sáng chế của người khác. Hai hệ thống pháp lý phục vụ các mục tiêu khác nhau. Trong vụ án, vấn đề quyết định là bị đơn có được chủ sở hữu sáng chế cho phép hoặc có căn cứ sử dụng hợp pháp khác hay không, chứ không phải sản phẩm đã có số đăng ký lưu hành.
5. Điều khoản bồi hoàn và trách nhiệm đối ngoại
Hợp đồng phân phối có điều khoản nhà cung cấp bảo đảm sản phẩm không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của bên thứ ba và cam kết bồi hoàn. Tòa án không coi điều khoản này là căn cứ loại trừ trách nhiệm của H đối với M. Do không có yêu cầu khởi kiện liên quan đến G, tranh chấp giữa H và G về trách nhiệm cuối cùng được dành cho cơ chế giải quyết theo hợp đồng.
Như vậy, cần tách hai tầng: chủ thể quyền có thể yêu cầu người trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm chịu trách nhiệm; còn người đó có quyền truy đòi nhà sản xuất hay không là vấn đề hợp đồng riêng.
6. Giá trị của giám định sở hữu trí tuệ
Tòa án dựa vào Kết luận giám định số SC003-21TC.TP/KLGĐ do chính Tòa trưng cầu, được thực hiện theo thủ tục tố tụng và không bị các bên phản đối. Điều này không biến kết luận giám định thành bản án: giám định xác định vấn đề chuyên môn về yếu tố xâm phạm, còn Tòa án đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận pháp lý cuối cùng.
7. Xâm phạm và bồi thường thiệt hại là hai vấn đề khác nhau
Mặc dù xác định có xâm phạm, Tòa không chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường 500 triệu đồng vì nguyên đơn không chứng minh đầy đủ thiệt hại vật chất và quan hệ nhân quả. Tòa chấp nhận 42.345.761 đồng chi phí hợp lý và 138.348.285 đồng phí luật sư, đồng thời buộc xin lỗi, cải chính công khai trên Báo Sức khỏe và Đời sống trong ba số liên tiếp.
Bản án vì vậy cho thấy việc chứng minh hành vi xâm phạm không đồng nghĩa với việc tự động chứng minh mọi khoản thiệt hại. Giá trị và giới hạn của Dự thảo án lệ
Dự thảo đề xuất giải pháp rằng nhà phân phối tại Việt Nam chịu trách nhiệm về hành vi xâm phạm sáng chế; nếu giữa nhà phân phối và
8. nhà sản xuất có tranh chấp về trách nhiệm pháp lý đối với sản phẩm thì giải quyết theo hợp đồng phân phối. Hướng tiếp cận này có thể tạo chuẩn tham chiếu quan trọng cho chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Tuy nhiên, tài liệu đang là Dự thảo án lệ số 21/2026; trang đầu còn để trống ngày thông qua và quyết định công bố. Vì vậy, bài viết không coi đây là án lệ đã được công bố chính thức. Cũng không nên suy rộng thành trách nhiệm tuyệt đối: phạm vi bảo hộ, hành vi cụ thể, căn cứ sử dụng hợp pháp, thời hạn văn bằng và chứng minh thiệt hại vẫn phải được xem xét trong từng vụ việc.
9. Hàm ý thực tiễn
Nhà phân phối nên coi điều khoản bảo đảm và bồi hoàn là công cụ phân bổ rủi ro nội bộ, không phải lá chắn đối với chủ thể quyền. Hợp đồng phân phối xuyên biên giới nên bổ sung nghĩa vụ kiểm tra freedom-to-operate, cung cấp hồ sơ kỹ thuật và pháp lý, thông báo cảnh báo xâm phạm, quyền tạm dừng nhập khẩu/phân phối, quyền kiểm soát chiến lược tố tụng, phạm vi bồi hoàn bao gồm chi phí giám định và luật sư, cùng cơ chế giải quyết tranh chấp có khả năng thi hành.
10. Kết luận
Bản án số 150/2024/KDTM-ST và Dự thảo án lệ số 21/2026 làm rõ sự phân biệt giữa trách nhiệm xâm phạm đối ngoại của nhà phân phối và trách nhiệm hợp đồng nội bộ với nhà sản xuất. Đây là sự phân biệt cần thiết để vừa bảo đảm hiệu lực của quyền sáng chế, vừa tôn trọng quyền tự do phân bổ rủi ro trong chuỗi cung ứng.
Luật sư Phạm Vũ Khánh Toàn
Giám đốc, PHẠM & LIÊN DANH
Tài liệu tham khảo và chú thích:
[1] Dự thảo án lệ số 21/2026; nguồn án lệ: Bản án sơ thẩm số 150/2024/KDTM-ST.
[2] Nhận định [3]-[7] về quyền sáng chế, giám định và hành vi xâm phạm.
[3] Nhận định [9]-[12] về thiệt hại, chi phí hợp lý và phí luật sư.
[4] Nhận định [15] về quan hệ giữa nhà phân phối và nhà sản xuất.[5] Phần Quyết định của Bản án.