Logo

Sở hữu trí tuệ thế giới và Việt Nam năm 2026 trước sức ép của AI và yêu cầu cải cách (Phần cuối).

14/10/2026

Nội dung (tiếp theo)

10. Việt Nam cần biến cải cách pháp luật thành chất lượng xử lý hồ sơ

  1. Thời hạn mới phải được đọc cùng quy tắc chuyển tiếp

  2. AI đòi hỏi phân biệt quyền đối với đầu vào và đầu ra

  3. Quyền ưu tiên nội địa cần được làm rõ về cách sử dụng

  4. Sáng chế PCT và dược phẩm cần thẩm định có lập luận riêng

  5. Nhãn hiệu cần giữ ranh giới giữa nhận diện nguồn gốc và ngôn ngữ mô tả

  6. Kiểu dáng bí mật kinh doanh và chỉ dẫn địa lý cần cách tiếp cận theo chức năng

  7. Giám định và thực thi phải tạo ra kết luận có thể phản biện

  8. Thương mại hóa phải bắt đầu từ danh mục quyền đáng tin cậy

11. Những ưu tiên cải cách có thể triển khai

12. Kết luận

13. Nguồn pháp luật phán quyết và tài liệu tham khảo

(Tiếp theo Phần 1)
--------------------------------------

10. Việt Nam cần biến cải cách pháp luật thành chất lượng xử lý hồ sơ

(i) Thời hạn mới phải được đọc cùng quy tắc chuyển tiếp

Luật 131/2025/QH15 có hiệu lực ngày 1/4/2026. Nghị định 100/2026/NĐ-CP và Thông tư 10/2026/TT-BKHCN, cùng ban hành ngày 31/3/2026, có hiệu lực ngày 1/4/2026. Nghị định 134/2026/NĐ-CP về quyền tác giả ban hành ngày 6/4, có hiệu lực ngày 9/4/2026. Những văn bản này tạo nền tảng cho hoạt động triển khai trong kỳ. [1][19][20][21] Khi tư vấn một hồ sơ, cần xác định đồng thời văn bản áp dụng và thời điểm phát sinh từng bước thủ tục.

Điều 119 Luật SHTT sau sửa đổi quy định thẩm định nội dung sáng chế trong 12 tháng, tính từ công bố đơn hoặc nhận yêu cầu thẩm định tùy thời điểm yêu cầu; nhãn hiệu, kiểu dáng và chỉ dẫn địa lý trong năm tháng từ công bố. Khoản 2a quy định thẩm định nhanh ba tháng cho sáng chế, nhãn hiệu trong các trường hợp do Chính phủ quy định. Điều 3 Luật 131 dành quy tắc chuyển tiếp riêng: đơn cũ về nguyên tắc theo luật tại thời điểm nộp, nhưng thời hạn phản đối và thẩm định nội dung của đơn công bố từ khi luật có hiệu lực theo quy định mới. [1]

Theo chúng tôi, người nộp đơn không nên chuyển những thời hạn này thành cam kết ngày cấp văn bằng. Thẩm định nội dung là một khâu; hồ sơ có thể còn phải xử lý phản đối, sửa đổi, phí và thủ tục cấp. Điều 119 cũng loại trừ thời gian người nộp đơn sửa đổi, bổ sung trong phạm vi được quy định. [1] Tư vấn có giá trị phải thể hiện ngày bắt đầu, thời gian đã trôi qua, khoảng thời gian bị loại trừ và công việc còn lại.

Một cải cách đáng tin cậy cần có dữ liệu để đo khoảng cách giữa thời hạn luật định và thực tế. Chúng tôi đề xuất công bố số hồ sơ theo năm nộp, ngày công bố, lĩnh vực và tuổi hồ sơ; tách thời gian chờ của cơ quan khỏi thời gian người nộp đơn phản hồi. Số đơn giải quyết trong năm chưa cho biết những hồ sơ tồn lâu nhất đang ở đâu. Bài viết không đưa ra tỷ lệ tồn đọng hoặc thời gian cấp trung bình khi chưa có bộ số liệu chính thức phù hợp.

(ii) AI đòi hỏi phân biệt quyền đối với đầu vào và đầu ra

Khoản 5 Điều 7 bổ sung cơ sở sử dụng văn bản, dữ liệu đã công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận cho nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện AI, với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu. Dữ liệu thuộc quyền tác giả, quyền liên quan còn phải tuân thủ quy định của Chính phủ. Khoản 5 Điều 6 giao Chính phủ quy định xác lập quyền với đối tượng được tạo ra có sử dụng AI. [1] Đây là hai vấn đề pháp lý khác nhau.

Không thể diễn giải Điều 7 thành quyền thu thập mọi nội dung nhìn thấy trên internet. Quyền tiếp cận, nguồn công bố và tác động tới chủ thể quyền phải được đánh giá riêng. Một hệ thống cung cấp lại những phần nội dung có khả năng thay thế sản phẩm gốc đặt ra câu hỏi khác với công cụ chỉ phục vụ phân tích nội bộ. Khi quyết định triển khai, doanh nghiệp cần lưu căn cứ sử dụng và kiểm tra cả cách dữ liệu xuất hiện ở đầu ra.

Về sáng tạo, Điều 12a và Điều 122 tiếp tục đặt con người trực tiếp sáng tạo vào trung tâm xác định tác giả; Điều 117 có căn cứ từ chối sáng chế, kiểu dáng khi tác giả không đáp ứng quy định liên quan. [1] Chúng tôi đề xuất lưu những phiên bản thể hiện lựa chọn của con người: thiết kế thí nghiệm, phương án kỹ thuật, chỉnh sửa và kiểm chứng. Không nên chỉ lưu prompt cuối cùng, vì nó có thể không phản ánh quá trình tạo ra kết quả.

Hướng dẫn áp dụng nên có ví dụ phân biệt hỗ trợ diễn đạt với tạo nội dung cốt lõi, và phân biệt kết quả dự đoán với thử nghiệm. Nếu tiêu chí quá hình thức, người dùng có thể chỉ thêm một bước chỉnh sửa để tạo dáng vẻ đóng góp. Nếu tiêu chí quá khắt khe, hoạt động nghiên cứu có sử dụng công cụ thông thường lại chịu bất lợi. Theo chúng tôi, trọng tâm cần là đóng góp có thể chứng minh, không phải tỷ lệ từ do máy tạo.

(iii) Quyền ưu tiên nội địa cần được làm rõ về cách sử dụng

Điểm a khoản 1 Điều 91 đã ghi nhận đơn đầu tiên nộp tại Việt Nam hoặc nước đáp ứng điều kiện điều ước làm cơ sở yêu cầu ưu tiên. Điều này không được trình bày như một điều khoản hoàn toàn mới do Luật 131 tạo ra. Yêu cầu ưu tiên còn gắn với cùng đối tượng, chủ thể, tài liệu và thời hạn; khoản 2 yêu cầu chỉ ra nội dung tương ứng khi dựa trên nhiều đơn trước. [1] Nộp lại một đơn không tự động phục hồi mọi quyền đã mất.

Cải cách hữu ích là công bố hướng dẫn với tình huống cụ thể: đơn sau giữ nguyên nội dung, thêm nội dung mới, đổi chủ thể hoặc dựa trên đơn bị thiếu sót. Người nộp đơn cần biết phần nào có thể hưởng ngày sớm và phần nào chịu ngày nộp mới. Với sáng chế, một bản đầu tiên quá sơ sài có thể không hỗ trợ nội dung sau; với nhãn hiệu, thay đổi dấu hiệu hoặc danh mục phải được kiểm tra theo từng trường hợp.

Cũng cần phân biệt ưu tiên với thẩm định nhanh. Ưu tiên giải quyết quan hệ ngày nộp trong xác định quyền; thẩm định nhanh giải quyết tốc độ xử lý. Nhầm hai khái niệm có thể khiến doanh nghiệp chọn sai chiến lược. Theo chúng tôi, biểu mẫu và hướng dẫn trực tuyến nên giải thích bằng ngôn ngữ đơn giản nhưng có ví dụ pháp lý, thay vì chỉ yêu cầu đánh dấu vào một ô mà không cho biết hệ quả.

(iv) Sáng chế PCT và dược phẩm cần thẩm định có lập luận riêng

Điều 120 Luật SHTT quy định đơn quốc tế và xử lý đơn quốc tế tuân theo điều ước liên quan. [1] Giá trị của PCT là tổ chức việc nộp, tra cứu và đánh giá ở giai đoạn quốc tế; không nên mô tả như một bằng sáng chế tự động có hiệu lực tại Việt Nam. Sử dụng kết quả tra cứu quốc tế có thể giảm trùng lặp công việc, nhưng quyết định quốc gia cần chỉ ra tiêu chí đang áp dụng và lý do chấp nhận hoặc không chấp nhận nhận định trước đó.

Điều 59 vẫn loại trừ phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán, chữa bệnh cho người và động vật. [1] Đối với dược phẩm, cần phân tích bản chất yêu cầu bảo hộ và cơ sở mô tả, không chỉ tên gọi do người nộp đơn lựa chọn. Chúng tôi đề xuất hướng dẫn với ví dụ về chất, chế phẩm, quy trình và dữ liệu chứng minh. Mục tiêu là bảo hộ đóng góp kỹ thuật thực chất, đồng thời tránh kéo dài quyền bằng khác biệt không có giá trị sáng tạo tương xứng.

(v) Nhãn hiệu cần giữ ranh giới giữa nhận diện nguồn gốc và ngôn ngữ mô tả

Điều 74 đặt điều kiện về khả năng phân biệt và các trường hợp dấu hiệu thiếu khả năng phân biệt; khả năng đạt được qua sử dụng phải được đánh giá theo điều kiện tương ứng. [1] Theo chúng tôi, chứng cứ doanh số, quảng cáo hoặc mức độ biết đến không tự động trả lời người tiêu dùng nhìn dấu hiệu như nhãn hiệu hay như mô tả. Mối liên hệ giữa dấu hiệu và nguồn thương mại cần được chứng minh, nhất là với từ ngữ có ý nghĩa thông thường.

Một khảo sát có giá trị cần trình bày cách chọn mẫu, câu hỏi, cách hiển thị dấu hiệu và tỷ lệ câu trả lời. Nếu đặt nhãn hiệu của doanh nghiệp cạnh từ mô tả, kết quả có thể đo việc nhận diện doanh nghiệp thay vì khả năng phân biệt của chính từ đó. Chúng tôi đề xuất cơ quan xử lý yêu cầu giải thích phương pháp, cho phép phản biện và tránh dùng một con số nhận biết làm căn cứ duy nhất.

Nhãn hiệu nổi tiếng cũng cần được phân tích cùng hành vi bị cho là xâm phạm. Bài học từ IKEA là yêu cầu cân nhắc căn cứ sử dụng và tác động cụ thể; nhưng đó không phải căn cứ trực tiếp thay đổi pháp luật Việt Nam. Chất lượng bảo hộ tăng khi phạm vi quyền được giải thích rõ, để chủ sở hữu có thể ngăn hành vi gây hại và thị trường vẫn có không gian dùng ngôn ngữ cần thiết để mô tả hàng hóa.

(vi) Kiểu dáng bí mật kinh doanh và chỉ dẫn địa lý cần cách tiếp cận theo chức năng

Cải cách kiểu dáng ở EU, với giai đoạn hai áp dụng từ ngày 1/7/2026 và sự xuất hiện đăng ký thể hiện bằng video, 3D theo thông tin EUIPO, cho thấy thủ tục phải theo kịp thiết kế số. [22] Đối với Việt Nam, chúng tôi đề xuất nghiên cứu cách biểu thị và đối chiếu đối tượng, nhưng không suy ra mọi giao diện hoặc chuyển động đã được bảo hộ theo luật trong nước. Cần làm rõ phần hình thể yêu cầu bảo hộ và tránh tạo độc quyền đối với chức năng kỹ thuật chỉ bằng một lựa chọn trình bày.

Bí mật kinh doanh và chỉ dẫn địa lý đặt ra yêu cầu quản trị khác. Chúng tôi đề xuất coi việc kiểm soát thông tin, hợp đồng và bằng chứng tiếp cận là phần thiết yếu trong quản trị bí mật. Với chỉ dẫn địa lý, đầu tư vào hồ sơ xác lập quyền phải đi cùng kiểm soát chất lượng và tổ chức sử dụng. Giá trị kinh tế sẽ khó duy trì nếu quyền tồn tại trên giấy nhưng người dùng không biết điều kiện và trách nhiệm của mình.

(vii) Giám định và thực thi phải tạo ra kết luận có thể phản biện

Điều 201 sau sửa đổi quy định các tổ chức thực hiện giám định và điều chỉnh điều kiện cấp thẻ; nguyên tắc giám định yêu cầu khách quan, chính xác và kết luận trong phạm vi chuyên môn được yêu cầu. [1] Theo chúng tôi, thị trường dịch vụ rộng hơn chỉ có ý nghĩa nếu đi cùng chất lượng phương pháp. Một kết luận cần cho phép nhận diện đối tượng so sánh, tài liệu làm căn cứ, bước lập luận và giới hạn, để cơ quan xử lý cùng các bên có thể phản biện.

Nghị định 186/2026/NĐ-CP ban hành ngày 26/5/2026, có hiệu lực ngày 15/7/2026, sửa cơ chế xử phạt hành chính trong sở hữu công nghiệp. [23] Khi lựa chọn biện pháp, phải phân biệt xử phạt, yêu cầu dân sự, kiểm soát biên giới và trách nhiệm hình sự. Chúng tôi đề xuất quyết định thực thi dựa trên mục tiêu: dừng hành vi, thu hồi hàng, bảo toàn chứng cứ hay bồi thường. Không nên dùng một thủ tục để hứa hẹn kết quả thuộc thủ tục khác.

Với hàng giả và giao dịch trực tuyến, chúng tôi đề xuất chuẩn hóa cách lưu mẫu, chứng từ mua, thông tin người bán và dữ liệu theo thời điểm. AI có thể hỗ trợ phát hiện dấu hiệu nhưng không thay thế xác minh nguồn hàng. Một hệ thống cảnh báo có nhiều kết quả sai có thể làm tăng chi phí cho doanh nghiệp trung thực và cơ quan xử lý. Chất lượng thực thi cần được đo cả bằng độ chính xác và khả năng sửa quyết định sai.

(viii) Thương mại hóa phải bắt đầu từ danh mục quyền đáng tin cậy

Điều 8a bổ sung trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ khi quyền chưa đáp ứng điều kiện ghi giá trị tài sản trong sổ kế toán. Điều 11b đặt cơ sở cho chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong hoạt động sở hữu trí tuệ. [1] Đây là cơ hội chuyển từ lưu hồ sơ đăng ký sang quản trị tài sản: quyền nào đang có hiệu lực, ai sở hữu, đã cấp phép cho ai và giới hạn giao dịch ở đâu.

Danh mục cần gắn với quyết định kinh doanh. Một bằng sáng chế không được khai thác có thể vẫn quan trọng với vị thế thương lượng; một nhãn hiệu tạo doanh thu nhưng chưa được bảo hộ ở thị trường chủ lực có thể mang rủi ro lớn. Chúng tôi đề xuất đánh giá tài sản qua phạm vi quyền, chứng cứ sử dụng, khả năng thực thi và dòng tiền, thay vì đưa mọi tài sản vào cùng một công thức định giá.

11. Những ưu tiên cải cách có thể triển khai

Từ các diễn biến trên, chúng tôi đề xuất Việt Nam ưu tiên chất lượng dữ liệu thủ tục. Mỗi hồ sơ nên có lịch sử trạng thái với căn cứ và thời điểm, đủ để người nộp đơn hiểu đang chờ công việc nào. Dữ liệu tổng hợp nên cho phép nhận diện nhóm hồ sơ chậm và nguyên nhân. Công khai dữ liệu không cần tiết lộ nội dung bí mật, nhưng phải đủ chi tiết để đo kết quả cải cách thay vì chỉ đo số quyết định ban hành.

Ưu tiên tiếp theo là hướng dẫn thẩm định và chứng cứ có ví dụ. Với AI, cần ví dụ về đóng góp con người, dữ liệu đầu vào và kết quả thử nghiệm. Với nhãn hiệu, cần phương pháp đánh giá khả năng phân biệt và khảo sát. Với sáng chế, cần giải thích riêng đối tượng, tính mới, trình độ sáng tạo và mô tả. Hướng dẫn tốt giúp giảm vòng trao đổi không cần thiết, đồng thời giúp người nộp đơn phản biện một cách có trọng tâm.

Cải cách thực thi cần làm rõ trách nhiệm giải trình. Quyết định chấp nhận hoặc bác yêu cầu phải trả lời lập luận chính và chứng cứ có ảnh hưởng tới kết quả. Cần có cơ chế bảo vệ thông tin kinh doanh trong quá trình kiểm tra chứng cứ mà vẫn bảo đảm quyền phản biện. Bài học của tranh chấp AI và phí luật sư tại Hoa Kỳ là tính đầy đủ của hồ sơ, không chỉ sức mạnh của một cáo buộc.

Cuối cùng, thương mại hóa cần được nối với quản trị pháp lý. Hỗ trợ định giá, cấp phép và chuyển giao nên bắt đầu bằng kiểm tra chuỗi sở hữu, hiệu lực và hạn chế giao dịch. Theo chúng tôi, Nhà nước nên hỗ trợ dữ liệu và chuẩn phương pháp; doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về chất lượng hồ sơ tài sản. Việc thúc đẩy giao dịch sẽ khó bền vững nếu bên mua không thể kiểm chứng tài sản đang nhận.

12.Kết luận

Những phát triển trong sáu tháng qua đặt lại một câu hỏi căn bản: hệ thống sở hữu trí tuệ có giúp người sáng tạo và doanh nghiệp xác định, khai thác và bảo vệ quyền với chi phí hợp lý hay không. AI làm câu hỏi này cấp thiết hơn, nhưng không xóa các yêu cầu về đóng góp sáng tạo, chứng cứ, phạm vi quyền và giới hạn độc quyền. Cấp quyền nhanh, minh bạch dữ liệu và kiểm soát chất lượng phải được thiết kế cùng nhau.

Đối với Việt Nam, giá trị của cải cách năm 2026 sẽ được thể hiện ở hồ sơ cụ thể: thông báo thẩm định có lập luận, thời gian xử lý có thể theo dõi, kết luận giám định có thể kiểm tra và tài sản có thể được thẩm định trước giao dịch. Đó là thước đo thích hợp để chuyển mục tiêu bảo hộ và thương mại hóa thành năng lực cạnh tranh. Kinh nghiệm quốc tế nên được tiếp thu qua phương pháp và điều kiện áp dụng, thay vì sao chép khẩu hiệu hoặc kết quả của một vụ án riêng lẻ./.

Ls. Phạm Vũ Khánh Toàn
Giám đốc, PHẠM & LIÊN DANH

----------------------

13. Nguồn pháp luật phán quyết và tài liệu tham khảo

Các số trong ngoặc vuông trong bài là liên kết có thể bấm để mở nguồn. Nguồn được rà soát đến ngày 13/10/2026. Những sự kiện trước 13/04/2026 được dùng làm bối cảnh và đã ghi rõ thời điểm. Không coi các phán quyết CJEU theo thủ tục giải thích là quyết định giải quyết xong tranh chấp tại tòa quốc gia.

[1] Quốc hội và Văn phòng Quốc hội. Luật 131/2025/QH15 ngày 10/12/2025, hiệu lực 01/04/2026; Luật SHTT hợp nhất tại 67/VBHN-VPQH ngày 23/03/2026. Điều 6, 7, 8a, 11b, 12a, 59, 74, 91, 117, 119, 120, 122, 201; Điều 3 Luật 131 về chuyển tiếp. Bản hợp nhất đăng Công báo số 197 ngày 10/04/2026.

Trang văn bản Luật 131/2025/QH15 trên Cổng Chính phủ

[2] European Commission. Commission starts enforcing AI Act rules and new transparency requirements on 2 August. Thông báo ngày 31/07/2026.

[3] European Commission. Commission seeks feedback on challenges and way forward in the area of effect of technology on copyright. Ngày 29/09/2026.

[4] U.S. Copyright Office. Copyright and Artificial Intelligence Part 3 Generative AI Training. Bản trước xuất bản ngày 09/05/2025, nguồn bối cảnh trước kỳ.

[5] Concord Music Group, Inc. et al. v. Anthropic PBC et al. N.D. Cal., 26-cv-00880-EKL (SVK), Document 100, ngày 16/07/2026. Quyết định cho giữ kín tài liệu, trang 1–2.

[6] CJEU. CG, YN v. Pelham GmbH, SD, UP. C-590/23, ngày 14/04/2026, ECLI:EU:C:2026:290. Đặc biệt các đoạn 43–58 và phần quyết định.

[7] CJEU. Anne Frank Fonds v. Anne Frank Stichting et al. C-788/24, ngày 09/07/2026, ECLI:EU:C:2026:559. Đặc biệt các đoạn 42–50 và phần quyết định.

[8] CJEU. Inter IKEA Systems, C-298/23, ngày 08/09/2026. Thông cáo chính thức 119/26; nguồn dùng cho phần tóm lược trong bài, không thay toàn văn phán quyết.

[9] Federal Circuit. Satius Holding, LLC v. Samsung Electronics Co., Ltd. et al. 2025-1446, ngày 01/10/2026. Phán quyết, đặc biệt trang 3–10.

[10] Federal Circuit. Epic Tech, LLC v. Pen-Tech Associates, Inc. 2025-1624, ngày 30/09/2026. Phán quyết, đặc biệt trang 5–10.

[11] Federal Circuit. ParkerVision, Inc. v. Qualcomm Incorporated et al. 2026-1033, 2026-1035, ngày 30/09/2026. Phán quyết về thẩm quyền kháng cáo.

[12] UKIPO. Search and Examination of UK Patent Applications under the Patents Act 1977 as amended. Công bố 14/07/2026; đặc biệt các đoạn 10–35, 46–60.

[13] CNIPA. Quy định quản lý thẩm định ưu tiên sáng chế, Lệnh 85. Thông qua 16/07/2026, ký 28/07/2026, áp dụng 01/09/2026. Điều 4–6, 15–17 và 24.

[14] JPO. Examination Handbook for Patent and Utility Model in Japan. Thông tin cập nhật 25/06/2026 về phiên bản tiếng Nhật từ 01/07/2026 và bản tiếng Anh.

[15] Cơ quan sở hữu trí tuệ Hàn Quốc. Thông báo hướng dẫn nộp đơn sáng chế trong thời đại AI ngày 09/06/2026. Nhấn mạnh đóng góp con người và kiểm chứng kết quả thử nghiệm.

[16] WIPO. PCT Highlights. Quyết định Đại hội đồng PCT tháng 07/2026, thành viên mới và số liệu PCT Yearly Review 2026 về đơn năm 2025.

[17] WIPO. Hague Yearly Review 2026 Executive Summary. Dữ liệu kiểu dáng trong đơn năm 2025.

[18] WIPO. Madrid Yearly Review 2026 International Registration of Marks. Trang xuất bản và báo cáo.

[19] Chính phủ. Nghị định 100/2026/NĐ-CP ngày 31/03/2026, hiệu lực 01/04/2026, sửa Nghị định 65/2023/NĐ-CP về sở hữu công nghiệp và nội dung liên quan.

[20] Bộ KH&CN. Thông tư 10/2026/TT-BKHCN ngày 31/03/2026, hiệu lực 01/04/2026. Quy định chi tiết Luật SHTT và các nghị định liên quan.

[21] Chính phủ. Nghị định 134/2026/NĐ-CP ngày 06/04/2026, hiệu lực 09/04/2026, sửa Nghị định 17/2023/NĐ-CP về quyền tác giả và quyền liên quan.

[22] EUIPO. A new way to represent EU designs EUIPO publishes first video and 3D registrations. Thông tin chính thức về triển khai sau mốc 01/07/2026.

[23] Chính phủ. Nghị định 186/2026/NĐ-CP ngày 26/05/2026, hiệu lực 15/07/2026, sửa cơ chế xử phạt trong sở hữu công nghiệp.

 

Số liệu WIPO được dẫn và diễn giải theo các báo cáo gốc; các nhận xét trong bài thuộc tác giả. Ban Thư ký WIPO không chịu trách nhiệm về việc diễn giải hoặc chuyển ngữ các nội dung này.

Các bài viết khác