Quyến đăng ký nhãn hiệu được quy định tại Khoản 1, Điều 87 của Luật SHTT như sau: Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.
I. Thực tiễn áp dụng và vướng mắc pháp lý
Hiện nay, quy định trên được hướng dẫn theo hướng: khi nghi ngờ tính xác thực hoặc rõ ràng của thông tin trong hồ sơ, Cục Sở hữu trí tuệ (Cục SHTT) có quyền yêu cầu người nộp đơn cung cấp tài liệu chứng minh hoạt động sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ thực tế.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là liệu việc thiếu tài liệu này có nên trở thành một căn cứ độc lập để từ chối quyền đăng ký nhãn hiệu hay không? Theo chúng tôi, việc coi hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế tại thời điểm nộp đơn là điều kiện bắt buộc sẽ làm thu hẹp quyền đăng ký nhãn hiệu một cách không cần thiết và không phù hợp với bản chất của cơ chế đăng ký nhãn hiệu.
II. Diễn biến của các quy định hướng dẫn
Quy định về quyền đăng ký nhãn hiệu tại Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ đã được cụ thể hóa và hoàn thiện qua các Thông tư hướng dẫn ban hành tương ứng với từng giai đoạn sửa đổi, bổ sung Luật. Cụ thể như sau:
- Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN (ban hành ngày 14/02/2007, hết hiệu lực ngày 30/11/2023): Tại Điểm 37.3, Thông tư cho phép Cục SHTT yêu cầu tài liệu xác minh khi có cơ sở nghi ngờ về tính xác thực của thông tin trong đơn. Trong danh mục tài liệu chứng minh tư cách người nộp đơn, văn bản này ghi nhận các giấy tờ như: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hợp đồng hoặc tài liệu khác xác nhận hoạt động sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ của người nộp đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 87.
- Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN (ban hành và có hiệu lực từ ngày 30/11/2023, thay thế Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN): Tại Khoản 3 Điều 24, Thông tư tiếp tục kế thừa cơ chế xác minh nêu trên, đồng thời chuẩn hóa thời hạn 02 tháng để người nộp đơn nộp tài liệu làm rõ thông tin. Thành phần tài liệu chứng minh tư cách người nộp đơn được cập nhật thuật ngữ mới, bao gồm: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hợp đồng hoặc tài liệu khác xác nhận hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với Khoản 1 Điều 87.
- Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN (ban hành ngày 31/03/2026, có hiệu lực từ ngày 01/04/2026): Tại Khoản 8 Điều 69, Thông tư tiếp tục duy trì thẩm quyền yêu cầu tài liệu xác minh của Cục Sở hữu trí tuệ. Điểm mới đáng chú ý của văn bản này là bổ sung nguyên tắc xử lý rõ ràng: Trường hợp quá thời hạn quy định mà người nộp đơn không cung cấp được tài liệu đáp ứng yêu cầu, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tiếp tục thẩm định đơn dựa trên các tài liệu hiện có trong hồ sơ, thay vì treo đơn hoặc từ chối đơn.
III. Nhận xét và vấn đề cần làm rõ
1. Phân biệt "quyền đăng ký" với "nghĩa vụ chứng minh hoạt động kinh doanh thực tế"
Khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ xác định tư cách chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu, nhưng không đồng nghĩa với nghĩa vụ bắt buộc phải chứng minh đã có hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ thực tế tại thời điểm nộp đơn. Nhãn hiệu không chỉ bảo hộ cho hoạt động hiện tại mà còn phục vụ kế hoạch kinh doanh hợp pháp trong tương lai. Việc yêu cầu chứng minh thực tế đối với toàn bộ danh mục hàng hóa, dịch vụ sẽ vô hình trung tước bỏ quyền bảo hộ sớm - một bước chuẩn bị tất yếu trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
2. Giới hạn phạm vi yêu cầu tài liệu trong giai đoạn thẩm định
Theo các văn bản hướng dẫn, việc yêu cầu nộp tài liệu chứng minh chỉ được thực hiện khi Cục Sở hữu trí tuệ có "cơ sở nghi ngờ" về tính xác thực hoặc tính rõ ràng của thông tin trong đơn. Do đó, đây là cơ chế xác minh cá biệt, không phải là thủ tục mặc nhiên áp dụng cho mọi hồ sơ. Việc người nộp đơn chưa có tài liệu thể hiện hoạt động kinh doanh thực tế tại thời điểm nộp đơn không được coi là căn cứ tự động để từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
3. Hoàn thiện quy định tại văn bản cấp Luật để đảm bảo tính thống nhất
Nguyên tắc "tiếp tục thẩm định đơn dựa trên các tài liệu hiện có" tại Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN là hướng tiếp cận hợp lý, khẳng định việc không bổ sung tài liệu xác minh không đồng nghĩa với việc tự động mất quyền đăng ký. Tuy nhiên, nếu Khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ vẫn bị diễn giải và viện dẫn như một căn cứ từ chối độc lập, nguy cơ áp dụng tùy nghi và thiếu thống nhất vẫn tồn tại. Do đó, tinh thần của Thông tư cần phải được luật hóa rõ ràng để đảm bảo tính đồng bộ.
4. Định vị đúng công cụ pháp lý để ngăn chặn hành vi đăng ký chiếm đoạt
Mục đích ngăn chặn các chủ thể không có lợi ích thương mại hợp pháp, đăng ký nhãn hiệu nhằm chiếm đoạt, cản trở người khác cần được giải quyết bằng các công cụ pháp lý phù hợp hơn. Thay vì lạm dụng Khoản 1 Điều 87 như một nghĩa vụ chứng minh hoạt động kinh doanh thực tế, cơ quan quản lý cần áp dụng các căn cứ về "dụng ý xấu" (bad faith), xâm phạm quyền của chủ thể khác hoặc các quy định về từ chối, hủy bỏ hiệu lực tương ứng. Điều này giúp vừa bảo vệ thị trường lành mạnh, vừa không tạo thêm gánh nặng thủ tục cho người nộp đơn trung thực.
IV. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung
Phương án kiến nghị cốt lõi: Sửa đổi Khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ theo hướng khẳng định quyền đăng ký nhãn hiệu không phụ thuộc vào trạng thái thực tế của hoạt động sản xuất, kinh doanh tại thời điểm nộp đơn. Quyền này cần được công nhận dựa trên mục đích sử dụng thương mại hợp pháp trong tương lai, miễn là không cấu thành hành vi chiếm đoạt với dụng ý xấu hoặc xâm phạm quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác.
1. Dự thảo quy định đề xuất
*“1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dự kiến sản xuất, dịch vụ do mình cung cấp hoặc dự kiến cung cấp. *
Việc người nộp đơn chưa thực hiện hoạt động sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tại thời điểm nộp đơn không phải là căn cứ để từ chối quyền đăng ký nhãn hiệu, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc đăng ký được thực hiện với dụng ý xấu hoặc không có quyền đăng ký theo quy định của Luật này.”
2. Kiến nghị các nguyên tắc áp dụng trong giai đoạn thẩm định
Để đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực thi, Cục SHTT cần quán triệt các nguyên tắc áp dụng sau:
- Giới hạn điều kiện yêu cầu tài liệu: chỉ được yêu cầu người nộp đơn cung cấp tài liệu chứng minh quyền đăng ký khi có thông tin, chứng cứ cụ thể làm phát sinh nghi ngờ hợp lý về tính xác thực của hồ sơ; không tự động biến yêu cầu này thành thủ tục mặc nhiên đối với mọi đơn đăng ký.
- Không coi việc chưa kinh doanh thực tế là căn cứ từ chối: Việc người nộp đơn không xuất trình được tài liệu chứng minh hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ tại thời điểm nộp đơn không được xem là căn cứ độc lập và duy nhất để từ chối đơn.
- Áp dụng đúng bản chất chế định "dụng ý xấu": Đối với các trường hợp có dấu hiệu đầu cơ, chiếm đoạt nhãn hiệu hoặc cản trở chủ thể khác, phải áp dụng chế định về "dụng ý xấu" (bad faith) và các căn cứ pháp lý tương ứng, thay vì lạm dụng quy định về quyền nộp đơn tại Điều 87 để từ chối.
- Đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống văn bản dưới luật: Quy định tại các Thông tư hướng dẫn thi hành phải thống nhất với nguyên tắc cấp Luật. Cần loại bỏ triệt để việc sử dụng các chứng từ hoạt động sản xuất, kinh doanh như một điều kiện hình thức hoặc rào cản mặc nhiên đối với quyền nộp đơn.
V. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định hướng dẫn tại văn bản dưới Luật
Để hiện thực hóa định hướng lập pháp tại Điều 87 và bảo đảm tính thống nhất ngay trong quá trình thẩm định, cần sửa đổi bổ sung Điểm a1 Khoản 8 Điều 69 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN.
1. Nội dung đề xuất bổ sung
Bổ sung một đoạn quy định loại trừ ngay sau nội dung hiện tại của Điểm a1 Khoản 8 Điều 69 như sau:
a1) [Tài liệu theo quy định chi tiết tại các nguồn tài liệu pháp lý chính thức] việc không cung cấp được tài liệu xác nhận hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ không đương nhiên là căn cứ loại trừ quyền đăng ký nhãn hiệu.
VI. Lý do và tác động dự kiến
Việc bổ sung quy định loại trừ tại Điểm a1 Khoản 8 Điều 69 Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN nhằm mang lại các tác động cốt lõi sau:
- Loại bỏ rào cản "sử dụng trước khi nộp đơn": Minh định ranh giới giữa quyền nộp đơn và hoạt động kinh doanh thực tế; ngăn chặn việc diễn giải sai lệch Khoản 1 Điều 87 thành nghĩa vụ use before filing.
- Bảo hộ quyền chuẩn bị thị trường: Tạo hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp xác lập quyền trước khi tung sản phẩm ra thị trường, phục vụ kịp thời các hoạt động gọi vốn, marketing và phân phối.
- Tối ưu hóa thủ tục hành chính: Cắt giảm gánh nặng chứng minh không cần thiết; nâng cao tính thống nhất và khả năng dự báo trước của kết quả thẩm định đơn.
- Kiểm soát tốt hành vi trục lợi: Việc nới lỏng hồ sơ kinh doanh không làm mất đi công cụ sàng lọc, các đơn đơn đăng ký chiếm đoạt, đầu cơ vẫn bị xử lý nghiêm bằng chế định "dụng ý xấu" (bad faith).
VII. Kết luận
Việc sửa đổi Khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ cùng các quy định hướng dẫn theo phương án trên là bước đi tất yếu để xác lập một cơ sở pháp lý minh bạch: tách bạch quyền nộp đơn khỏi nghĩa vụ chứng minh hoạt động kinh doanh thực tế tại thời điểm xác lập quyền. Qua đó, hệ thống pháp luật vừa bảo vệ toàn diện quyền bảo hộ sớm của người nộp đơn trung thực, vừa tối ưu hóa công cụ sàng lọc, ngăn chặn hiệu quả các hành vi đầu cơ, chiếm đoạt nhãn hiệu với dụng ý xấu./.
Ls. Phạm Vũ Khánh Toàn
Giám đốc, Công ty luật TNHH Phạm và Liên danh