Logo

Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ

19/06/2019
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với kết quả 100% số đại biểu tham gia bỏ phiếu đồng ý (448/448)

Ngày 14/6/2019, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ.  Sau đó, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật này.Kết quả cụ thể như sau: Số đại biểu tham gia biểu quyết: 448 ( 92.56% tổng số đại biểu Quốc hội); Số đại biểu đồng  ý: 448/448 (100 %).

Sau đây là những sủa đổi/bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ như sau:

1. Sửa đổi khoản 3, bổ sung khoản 4 Điều 60 như sau:

“3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người có được thông tin về sáng chế một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người đó bộc lộ công khai với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn mười hai tháng kể từ ngày bộc lộ.

4. Quy định tại khoản 3 Điều này không áp dụng đối với trường hợp sáng chế được bộc lộ trong các đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ hoặc văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được cơ quan sở hữu trí tuệ công khai cho công chúng tiếp cận trừ trường hợp việc này được thực hiện do sai sót của cơ quan sở hữu trí tuệ hoặc đơn được người thứ ba có được thông tin một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này nộp nhưng không được sự đồng ý của người có quyền đăng ký đó.”.

2. Sửa đổi khoản 1 và khoản 3 Điều 80 như sau:

“1. Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá theo nhận thức của người tiêu dùng có liên quan ở Việt Nam;”

"3. Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;"

3. Bổ sung khoản 3 vào Điều 89 như sau:

3. Đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp được nộp dưới hình thức văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp hoặc các địa điểm tiếp nhận đơn khác do cơ quan này thiết lập hoặc dưới hình thức điện tử theo hệ thống nộp đơn trực tuyến do cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp thiết lập.”

4. Bổ sung Điều 120a vào sau Điều 120 như sau:

“Điều 120a. Công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo điều ước quốc tế

Việc công bố, xử lý ý kiến cuả người thứ ba, đánh giá khả năng bảo hộ và xác định phạm vi bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý được yêu cầu công nhận và bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên được thực hiện theo các quy định tương ứng tại Luật này đối với chỉ dẫn địa lý trong đơn đăng ký được nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp”.

5. Sửa đổi khoản 2 Điều 136 như sau:

"2. Chủ sở hữu nhãn hiệu có nghĩa vụ sử dụng liên tục nhãn hiệu. Việc sử dụng nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển quyền theo hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu. Trong trường hợp nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên thì Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại Điều 95 của Luật này.”.

6. Sửa đổi khoản 2, bổ sung khoản 3 Điều 148 như sau:

“2. Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên.

3. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại khoản 2 của Điều này chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp, trừ hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu.”.

7. Bổ sung khoản 4, khoản 5 Điều 198 như sau:

"4. Tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí hợp lý để thuê luật sư.

5. Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của người khác có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên lạm dụng thủ tục phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong đó có chi phí hợp lý để thuê luật sư.”.

8. Sửa đổi khoản 1 Điều 205 như sau:

“1. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:

a) Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;

b) Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện; hoặc

c) Các căn cứ hợp pháp khác do chủ thể quyền đưa ra;

d) Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thường thiệt hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá năm trăm triệu đồng.”

9. Sửa đổi khoản 1 Điều 218 như sau:

“1. Khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định tại Điều 217 của Luật này thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm dừng, cơ quan hải quan cung cấp thông tin về tên và địa chỉ của người gửi hàng, nhà xuất khẩu, người nhận hàng, hoặc nhà nhập khẩu; bản mô tả hàng hoá, số lượng hàng hoá, và nước xuất xứ của hàng hoá (nếu biết) cho chủ thể quyền.”.

Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp

1. Các hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, phát sinh từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đến ngày Luật này có hiệu lực được thực hiện theo quy định của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

Điều 4. Hiệu lực thi hành

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2019.

.......

4. Các quy định về sở hữu trí tuệ tại Luật này được áp dụng đối với:

a) Đơn đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thiết kế bố trí, chỉ dẫn địa lý được nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.

b) Thủ tục hủy bỏ hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý của các đơn được nộp từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;

c) Thủ tục chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019;

d) Các thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu thực hiện từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.

 

 

Các bài viết khác